Thông báo:
Từ 1 đến 31/12 Share123.vn giảm giá các template blogspot còn 100k
Hiển thị các bài đăng có nhãn KHOA HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KHOA HỌC. Hiển thị tất cả bài đăng

Giả thuyết mới về nguồn gốc của sự sống

Các nhà khoa học làm thí nghiệm mô phỏng sự va chạm giữa sao chổi và các thiên thể băng giá để tìm ra nguồn gốc sự sống trong Thái Dương hệ.

astrobio-9152-1379410008.jpg
Sự va chạm của một hành tinh với sao chổi có thể tạo ra axit amin là nguồn gốc cho sự sống. Ảnh: Matthew
Sao chổi và các thiên thể băng giá chứa một số yếu tố nền tảng cho sự sống, tuy nhiên cần phải có một tác động va chạm để kích hoạt những yếu tố nền tảng này lên một mức độ cao hơn.
Đầu tiên các nhà khoa học tạo ra hỗn hợp nước đóng băng và các hóa chất hữu cơ nhẹ dựa trên những gì đã quan sát thấy trên sao chổi và nghi ngờ tồn tại trên các vệ tinh của Sao Thổ. Sau đó, họ tạo ra sự va chạm bằng cách bắn vào hỗn hợp bởi một viên đạn thép với tốc độ rất cao 7 km/s.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng vụ va chạm tạo nên một số axit amin, trong đó có một lượng ngang nhau của D-alanine và L-alanine. Khi phân tích các mẫu băng tương tự (không có va chạm) không thấy xuất hiện những dấu hiệu để hình thành protein cần thiết cho sự sống. Kết quả cũng cho thấy băng giá đóng một vai trò quan trọng trong Thái Dương hệ, nó có thể là nguyên liệu cho sự sống ban đầu.
Quá trình thử nghiệm được tiến hành hai lần cách nhau một năm để thấy rằng axit amin họ tạo ra không phải do tình cờ. Các nhà khoa học cũng phải bỏ rất nhiều công sức để giữ cho hỗn hợp nước đóng băng và thiết bị tách biệt với môi trường bên ngoài.
"Chúng tôi cần tất cả mọi thứ cực kỳ sạch sẽ và chúng tôi cần chỉ ra rằng kết quả được lặp lại như trước, nghiên cứu này là một bước tiến quan trọng vì nó vượt ra ngoài các mô phỏng tác động rất nhiều", Zita Martins thuộc Đại học Hoàng gia London của Anh, tác giả chính bài báo báo, cho hay.
“Có rất nhiều lý luận trước đây, nhưng mỗi khi chúng được đưa ra đều bị chỉ trích vì không tiến hành thử nghiệm, sự thành công của thí nghiệm này là tiền đề để nhiều nghiên cứu khác nối tiếp sau đó”, Zita Martins cho biết thêm.
Sự sống trên trái đất có thể do sao chổi băng đâm vào lớp vỏ đá trái đất trong một vài tỷ năm trước. Nghiên cứu này cũng cho thấy nguồn gốc và làm gia tăng cơ hội xuất hiện sự sống trong Thái Dương Hệ chúng ta.

Phục hồi rừng Trường Sơn

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF) và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam vừa khởi động chương trình phục hồi rừng ở dãy Trường Sơn, khu vực biên giới Lào và Việt Nam.

Loài Sao la. Ảnh: WWF.
Sao la, một loài thú quý hiếm và đặc hữu của khu vực Trường Sơn. Ảnh: WWF.
Chương trình được thực hiện tại 20 xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, đây là một hoạt động của Dự án “Dự trữ các-bon và bảo tồn đa dạng sinh học” (CarBi) do WWF khởi xướng. Trong đợt trồng rừng này, các cây bản địa sẽ được trồng mới trên 200 ha và hơn 430 ha rừng tại những điểm trọng yếu của hai tỉnh.
Năm 2014, chương trình sẽ tiếp tục trồng thêm cây bản địa trên 250 ha và xúc tiến tái sinh rừng tại 2.970 ha cũng tại khu vực trên.
Theo đánh giá của chuyên gia bảo tồn, trung Trường Sơn là một trong những nơi có độ đa dạng sinh học cao của khu vực và trên thế giới, với rất nhiều loài thú quý hiếm và chỉ có thể tìm thấy tại đây như sao la, voọc, mang Trường Sơn, mang lớn và thỏ vằn. Tuy nhiên, rừng đang bị phân mảnh do nhiều hoạt động của con người, đặc biệt là khai thác gỗ trái phép, săn bắn động vật hoang dã cũng như các phương pháp lâm nghiệp thiếu bền vững.
Sinh cảnh bị phân mảnh là một trong những nguyên nhân chính đe doạ “hành lang” sinh học tự nhiên, hạn chế các loài di chuyển và phối giống. Những hành lang sinh học là nền tảng cho sự sống còn của các loài quý hiếm sinh sống trong điểm nóng đa dạng sinh học này. Hiện có nhiều loài bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng. Nếu không có những nỗ lực tái tạo rừng, hệ sinh thái khu vực sẽ không thể phục hồi.
“WWF đang nỗ lực kết nối các mảng rừng bị chia cắt tại khu vực trung Trường Sơn để tạo ra những “hành lang” tự nhiên, nơi có thể đảm bảo sự di chuyển an toàn cho các loài quý hiếm của khu vực trong đó có loài sao la", tiến sĩ Lê Thuỷ Anh, Quản lý chương trình trung Trường Sơn của WWF-Việt Nam nói.
"Trồng các cây bản địa là một trong những hoạt động WWF đang thực hiện trong chương trình CarBi để tái tạo sự liên kết liền mạch của khu vực đa dạng sinh học độc đáo này", tiến sĩ Anh nói thêm.
Hợp phần Phục hồi rừng của dự án là một chiến lược bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng và được thực hiện với sự hợp tác của các hộ gia đình địa phương. Các hộ dân chính là những người sẽ thực hiện việc phục  hồi rừng, nơi cung cấp sinh kế cho họ.

Người miễn dịch với nọc độc rắn

Một người đàn ông Mỹ có khả năng miễn dịch với nọc độc rắn sau nhiều lần bị rắn cắn và tự tiêm nọc độc vào cơ thể.

fgh-5063-1381381652.jpg
Tim Friede và con rắn độc nuôi trong nhà. Ảnh: Hotspot Media
Để có thể miễn dịch với nọc độc rắn, Friede nuôi 15 con rắn ở căn hầm trong nhà và tự tiêm một loại protein có nọc độc rắn pha loãng.
Nhờ khả năng miễn dịch với nọc độc rắn, trong nhiều năm qua Tim Friede sống tại thành phố Milwaukee, bang Wisconsin, Mỹ, vẫn sống khỏe mạnh dù bị nhiều con rắn độc cắn hơn 100 lần. 
Các kiểm tra với Friede cho thấy mức độ đề kháng IgG trong cơ thể anh cao đến mức có thể trung hòa được nọc độc rắn trong máu. Friede cho biết có nhiều phản ứng phụ tích cực khác xuất hiện kể từ khi tiếp xúc với nọc độc rắn, nhờ đó rất hiếm khi anh gặp bệnh tật và cũng không bị dị ứng như khi còn trẻ.
Trong những năm đầu nghiên cứu, Friede cho hai con rắn hổ mang cắn và rơi vào trạng thái hôn mê, tuy nhiên vẫn sống sót. Đến nay, các loài rắn mà Friede tự cho cắn vào tay gồm nhiều loài rắn độc như rắn chuông hay rắn mamba đen châu Phi.
Thông thường, nọc độc của một con rắn đen mamba có thể giết chết một người trong 20 phút. Friede hi vọng việc anh phát triển khả năng đề kháng với nọc độc rắn có thể tạo ra một loại văcxin cho những người chết vì rắn cắn mỗi năm.
Friede không phải là người đầu tiên tự để rắn cắn để miễn dịch với nọc độc. Trước đó, một người đàn ông 43 tuổi có tên là Steve Ludwin từng tự tạo khả năng miễn dịch với các nọc độc rắn chết người bằng cách thường xuyên tiêm nọc độc rắn vào cơ thể. Bill Haast, người điều hành một công viên bò sát ở Florida, chết ở tuổi 100 sau khi tự tiêm nọc độc rắn.
Mỗi năm, trung bình có khoảng 100.000 người chết và 250.000 người tàn tật vĩnh viễn vì rắn cắn. 

Voi hiểu được cử chỉ của con người

Một nghiên cứu mới đây cho biết loài voi có thể hiểu được cử chỉ của con người mà không cần huấn luyện hoặc thuần hóa.

voi-8346-1381480747.jpg
Con voi châu Phi thực hiện theo chỉ tay của con người. Ảnh: 
Richard Byrne và đồng nghiệp Anna Smet đến từ trường Đại học St Andrews, Scotland, tiến hành nghiên cứu với 11 con voi châu Phi chuyên chở khách du lịch ở khu vực thác Victoria, nằm gần biên giới giữa Zambia và Zimbabwe. Các con voi được được huấn luyện làm theo các yêu cầu bằng giọng nói, nhưng không được huấn luyện hiểu cử chỉ của con người. 
Trong khi nghiên cứu, họ giấu những mẩu thức ăn lẫn trong một số thùng đựng nhỏ, sau đó chỉ tay vào chiếc thùng được giấu thức ăn để hướng dẫn những con voi. Sau khoảng hai phần ba thời gian, các coi voi đi đến đúng nơi giấu thức ăn trước đó. Cả 5 con voi đều có một lựa chọn chính xác, thậm chí nhiều con chọn đúng nơi cất đồ ăn ngay từ lần đầu tiên.
"Bằng cách chỉ ra rằng loài voi châu Phi hiểu cử chỉ của con người một cách tự nhiên mà không cần phải huấn luyện, chúng tôi có thể chứng minh được khả năng này không chỉ có ở con người mà đã tiến hóa ở một loại động vật khác biệt với các loài linh trưởng", NBC News dẫn lời Richard Byrne cho biết. ""Điều thực sự làm chúng tôi ngạc nhiên đó là chúng không cần phải học bất kỳ điều gì. Chúng có khả năng hiểu rất tốt, ngay cả từ lần thử đầu tiên, cuối cùng thì chúng tôi có thể nhận ra khả năng hiểu cử chỉ con người của loài vật này".
Phát hiện của nhóm nghiên cứu cho thấy khả năng làm theo hành động chỉ tay của con người ở loài voi có thể xuất phát từ đặc điểm xã hội của chúng. Loài voi sống thành các đàn lớn và thể hiện nhiều hành vi bộc lộ cảm xúc như đánh dấu mộ của những thành viên trong đàn và khóc thương cho cái chết của những con voi đã chết. Các con voi cũng có thể tự nhận ra mình trong gương, một dấu hiệu của động vật có tính xã hội và sự đồng cảm.
Loài voi sống trong một mạng lưới tương đối phức tạp, mà ở đó sự chia sẻ và giúp đỡ những con vật khác có ý nghĩa quan trọng đối với sự sống còn. Đó có thể là một xã hội mà khả năng làm theo những cử chỉ sẽ giúp chúng thích ứng với cuộc sống, hoặc xã hội loài voi đã lựa chọn một khả năng để hiểu được những cử chỉ của các loài khác trong khi giao tiếp với chúng. 

Vi khuẩn có khả năng tạo ra điện năng

Các nhà khoa học khám phá ra các tế bào vi khuẩn truyền điện, đánh dấu một bước tiến lớn trong lĩnh vực sinh học thực nghiệm.
Ngày 23/5/2011, nhóm nghiên cứu thuộc đại học tây Anglia, anh đã công bố cấu trúc phân tử của protein cho phép tế bào vi khuẩn truyền điện, đánh dấu một bước tiến lớn trong lĩnh vực sinh học thực nghiệm, đưa con người tiến gần hơn tới việc áp dụng pin sinh học vào đời sống. Báo cáo được đăng trên Kỷ yếu Khoa học Hàn lâm quốc gia Anh.
Vi khuẩn có khả năng tạo ra điện năng
Với công nghệ này, các nhà khoa học có thể cố định vi khuẩn trực tiếp lên điện cực, dựa vào đặc tính chuyển hóa của vi khuẩn để tạo ra các pin, còn gọi là pin sinh học. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng công nghệ khảo sát tinh thể bằng tia X để xác định cấu trúc của các protein truyền điện tử (electron) trên bề mặt của tế bào vi khuẩn Shewanella oneidensis. Phép khảo sát tinh thể bằng tia X bản chất là tập trung một chùm tia X lên một vật có cấu trúc tinh thể, sau đó xác định cấu trúc của nó bằng cách phân tích các góc và mật độ của các chùm nhiễu xạ.
Bên cạnh ứng dụng trong công nghệ pin nhiên liệu, phát hiện này cũng sẽ có thể giúp ích trong việc phát triển các tác nhân vi khuẩn, được sử dụng để làm sạch ô nhiễm dầu hay ô nhiễm urani.
Vi khuẩn có khả năng tạo ra điện năng
Theo tiến sĩ Tom Clarke, khoa Sinh học, đại học Tây Anglia, đây là một tiến bộ lớn trong hiểu biết của chúng ta về các loài vi khuẩn có thể truyền điện tử từ bên trong ra bên ngoài tế bào. Xác định cấu trúc phân tử chính xác của các protein quan trọng trong quá trình này là một bước cần thiết hướng tới khai thác vi khuẩn như một nguồn điện trong tương lai.
Các thành viên khác của nhóm bao gồm giáo sư David Richardson và giáo sư Julea Butt, cùng các cộng sự tại phòng thí nghiệm quốc gia Tây Bắc Thái Bình Dương tại bang Washington.

Hàng loạt cá voi chết bí ẩn trên bãi biển Tây Ban Nha


Sóng định vị khiến cá voi chết hàng loạt







Sóng định vị khiến cá voi chết hàng loạt

Cập nhật lúc 09h25' ngày 30/09/2013

Khi khoảng 100 cá voi đi lạc vào vùng nước cạn của phá Loza thuộc Madagascar vào tháng 5 và 6/2008, các nhà khoa học đã nghi ngờ sóng định vị dưới nước đóng vai trò nào đó trong vụ này.
Một nhóm các nhà khoa học độc lập mới đây đã xác nhận sự liện hệ giữa sóng định vị dưới nước, do tập đoàn Exxon Mobil sử dụng vẽ bản đồ thềm biển để kiếm dầu, với cái chết của ¾ số cá voi đầu dưa đi lạc.

Sóng định vị khiến cá voi chết hàng loạt
Hơn 100 cá voi bị mắc cạn tại Madagascar vào năm 2008 - (Ảnh: IFAW)
Khi động vật biển đi vào những khu vực mà chúng thường không lui tới, chẳng hạn như các vùng nước cạn, đó là hành động mắc cạn, dù chết hay sống.
Đây không phải là cuộc nghiên cứu đầu tiên xác nhận sự liên hệ giữa sóng định vị với tình trạng cá voi mắc cạn.
Khi khoảng 150 cá voi đầu dưa bị dạt vào vịnh Hanalei tại đảo Kaua'i ở Hawaii vào năm 2004, Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia (NOAA) của Mỹ đã kết nối sự kiện này với sóng định vị tàu ngầm của Hải quân Mỹ.
Trung tâm Khoa học Ngư nghiệp Tây Nam của NOAA ở Pacific Grove, California, cho hay vẫn chưa rõ chính xác lý do khiến cá voi thay đổi hành vi, nhưng chuyên gia Robert Brownel của tổ chức này giả định rằng âm thanh của sóng định vị “dựng lên bức tường âm thanh, khiến chúng muốn trốn chạy”, theo CBS News.
Những người khác lại đổ lỗi cho chu kỳ mặt trăng gây nên tình trạng mắc cạn trên, dựa trên 21 sự kiện tương tự, theo AFP.
Tuy nhiên, với kết luận mới trong vụ Madagascar, tác động của con người rõ ràng đã ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của động vật biển.